SỐ LƯỢT TRUY CẬP

4
1
2
4
6
4
0

 Kinh tế - Xã hội

Kinh tế - Xã hội Thứ Tư, 08/05/2019, 08:30

Tình hình phát triển kinh tế tháng 4/2019

1.1. Nông nghiệp

Toàn ngành đã tập trung hướng dẫn nông dân thực hiện thời vụ sản xuất lúa, rau màu năm 2019; tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Ước đến cuối tháng 4, toàn tỉnh đã xuống giống 86.072 ha lúa, đạt 45,62% kế hoạch, bằng 96,27% so cùng kỳ; diện tích lúa thu hoạch 76.394 ha (trong đó đã thu hoạch 36.794 ha Lúa Mùa năm 2018 – 2019 (lúa - tôm) và 48.327 ha Lúa Đông Xuân 2018 – 2019), năng suất bình quân 7,1 – 7,8 tấn/ha, với tổng sản lượng lúa trong tháng ước đạt 169.800 tấn, nâng tổng sản lượng lúa 4 tháng đạt 471.734 tấn, đạt 42,12% kế hoạch, bằng 97,8% so cùng kỳ.

Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác trong tháng ước đạt 21.986 tấn, nâng sản lượng thủy sản 4 tháng đầu năm lên 78.624 tấn, tăng 3,11% so với cùng kỳ. Các sản phẩm thủy sản hầu hết đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Cá thương phẩm sản lượng đạt 39.943 tấn, tăng 3,27%; sản lượng thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm đạt 26.133 tấn, tăng 3,87%; thủy sản khác, ước đạt 12.548 tấn, tăng 1,12% so cùng kỳ. Như vậy, sản lượng thủy sản những tháng đầu năm đạt khá cao, nguyên nhân do việc ứng dụng các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú và tôm càng xanh trên đất tôm – lúa đạt hiệu quả. Ngoài ra, việc khai thác đánh bắt trúng mùa te ruốc và mực đã góp phần tăng sản lượng thủy sản. Cụ thể:

Nuôi trồng thủy sản (NTTS): Diện tích nuôi trồng thủy sản là 111.584 ha, hiện đang nuôi 110.562 ha, trong đó tôm 109.756 ha (nuôi tôm siêu thâm canh, thâm canh và bán thâm canh (STC, TC & BTC) 4.942 ha, các hình thức nuôi khác 104.814 ha); cá và thủy sản khác 806 ha. Diện tích thu hoạch 75.017 ha, sản lượng thu hoạch 12.144 tấn (trong đó tôm 6.319 tấn, cá và thủy sản khác 5.825 tấn), nâng sản lượng nuôi trồng 4 tháng đạt 43.916 tấn, tăng 8,01%.

Về khai thác, đánh bắt thủy sản: Sản lượng khai thác đánh bắt thủy hải sản 4 tháng đầu năm ước đạt 34.708 tấn, bằng 97,53% so với cùng kỳ. Trong đó, cá khai thác đạt 22.757 tấn, bằng 97,74%; tôm đạt 4.227 tấn, bằng 98,92%, thủy sản khác đạt 7.724 tấn, bằng 96,18% so cùng kỳ.

1.2. Công Thương nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tháng 4 tăng 7,06% so với kỳ trước, tăng 15,70% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước 4 tháng tăng 11,08% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Ngành khai khoáng tăng 9,35%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,88%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,78%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,81% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của ngành trong 4 tháng đều có mức tăng trưởng so với cùng kỳ như: Sản lượng chế biến thủy sản đông lạnh ước đạt 27.249,50 tấn, bằng 31,33% kế hoạch, tăng 10,01%; bia các loại ước đạt 17,66 triệu lít, bằng 29,93% kế hoạch, tăng 2,56%; điện thương phẩm ước đạt 321,08 triệu kwh, bằng 30,01% kế hoạch, tăng 4,77%; nước máy thương phẩm ước đạt 3.072,03 ngàn m3, bằng 29,21% kế hoạch, tăng 6,84% so với cùng kỳ,…

Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tháng 4 ước đạt 5.536,55 tỷ đồng, nâng tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ 4 tháng ước đạt 21.458,98 tỷ đồng bằng 32,51% kế hoạch, tăng 14,41% so với cùng kỳ. Trong đó: Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ ước đạt 16.106,26 tỷ đồng và doanh thu dịch vụ ước đạt 5.352,72 tỷ đồng.

Tình hình xuất khẩu thủy sản của tỉnh 4 tháng đầu năm 2019 tăng so với cùng kỳ, nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào mặt hàng thủy sản xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm ước đạt 201,50 triệu USD, bằng 29,20% kế hoạch, tăng 3,08% so với cùng kỳ và tiêu thụ nội địa ước đạt 12,12 triệu USD, bằng 31,44% kế hoạch, giảm 5,68% so với cùng kỳ. Thủy sản xuất khẩu tháng 4 ước đạt 5.623,20 tấn, nâng lượng thủy sản xuất khẩu 4 tháng ước đạt 20.931,70 tấn, bằng 32,52% kế hoạch, tăng 6,32% so với cùng kỳ (Trong đó: Tôm đông lạnh đạt 20.365,70 tấn, thủy sản khác đạt 566 tấn).

1.3. Đầu tư - Xây dựng

Công tác xây dựng cơ bản luôn được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo tích cực, thường xuyên, chỉ đạo, kịp thời sở gỡ khó khăn cho các chủ đầu tư. Ngay từ đầu năm Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định phân bổ kế hoạch năm 2018; đồng thời, chỉ đạo các cấp, các ngành, các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thanh quyết toán đảm bảo theo đúng quy định và tiến độ thực hiện các dự án, công trình hạ tầng trọng điểm ngay từ những tháng đầu năm; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các chủ đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện. Tính đến ngày 18/4/2019, kế hoạch năm 2019 giải ngân được 408.861/2.639.365 triệu đồng, đạt tỷ lệ 15,49%, tỷ lệ đạt khá so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ giải ngân được 391.114/2.954.174 triệu đồng, đạt tỷ lệ 13,24%).

Ngoài ra, tỉnh còn chủ trương tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch, gắn kết giữa đầu tư phát triển đô thị với quy hoạch xây dựng. Tiếp tục tiến hành xây dựng và triển khai các chương trình ứng phó đối với biến đổi khí hậu tại các đô thị nằm trong vùng chịu ảnh hưởng. Rà soát quy hoạch xã nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu; thu hút các nguồn lực đầu tư vào hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa; tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, vùng khó khăn. Bên cạnh đó, tỉnh còn triển khai thi công đối với 03 dự án điện gió: Bạc Liêu giai đoạn III, Hòa Bình I và Đông Hải I; Theo dõi, thúc đẩy việc bổ sung vào Quy hoạch đối với các dự án điện gió, điện mặt trời đang trình Bộ Công Thương.

1.4. Thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

Tình hình thu hút đầu tư luôn được quan tâm và chỉ đạo quyết liệt. Từ đầu năm tới nay, tỉnh đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới (GCNĐKĐT) cho 03 dự án, trong đó: Cấp mới GCNĐKĐT cho 02 dự án trong nước, với tổng vốn 378 tỷ đồng; 01 dự án nước ngoài, với tổng vốn 110 triệu USD (Dự án Nhà máy điện gió Nhật Bản Bạc Liêu - giai đoạn 1 (theo quy hoạch Nhà máy điện gió Đông Hải 2)); cấp điều chỉnh GCNĐKĐT cho 03 dự án, với tổng vốn 6.303 tỷ đồng; ngoài ra đã tiếp nhận và xử lý 11 hồ sơ dự án xin nghiên cứu khảo sát, lắp đặt trụ đo gió, đề xuất thực hiện dự án, điều chỉnh dự án, xử lý kiến nghị từ các nhà đầu tư Nhà đầu tư. Bên cạnh đó, đã tổ chức thành công Hội nghị đánh giá kết quả xúc tiến đầu tư, phát triển doanh nghiệp, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh năm 2018, phương hướng thực hiện năm 2019 và những năm tiếp theo (diễn ra ngày 22/4/2019). Theo bảng xếp hạng PCI năm 2018 (Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) mới được công bố, tỉnh Bạc Liêu đạt 62,53 điểm tăng 1,44 điểm và xếp thứ 39/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, tăng 03 bậc so với năm 2017.

Trong tháng, ước thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 26 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký là 1.240 tỷ đồng; nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay lên 94 doanh nghiệp, với tổng số vốn là 1.677 tỷ đồng, giảm 10,5% về số doanh nghiệp và tăng 12,85% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ.

1.5. Tài chính – Ngân hàng

1.5.1. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong tháng 4 ước đạt 196,5 tỷ đồng, nâng tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 4 tháng đầu năm lên 1.251 tỷ đồng, đạt 39,32% dự toán và tăng 5,93% so cùng kỳ. Ước tính tổng chi ngân sách tháng 4 là 597,47 tỷ đồng, nâng tổng chi ngân sách 4 tháng lên 1.874,98 tỷ đồng, bằng 27,64% dự toán, tăng 18,88% so với cùng kỳ.

1.5.2. Ngân hàng:

Ước nguồn vốn huy động tại chỗ đến ngày 30/4/2019 đạt 19.600 tỷ đồng, tăng 5,61% so với cuối năm 2018; trong đó, vốn huy động trên 12 tháng là 11.650 tỷ đồng, tăng 4,86% so với cuối năm 2018; tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng ước đạt 24.100 tỷ đồng, tăng 1,62% so với cuối năm 2018 (trong đó: Dư nợ ngắn hạn 14.050 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 58,30%/ tổng dư nợ; dư nợ trung và dài hạn 10.050 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 41,70%/ tổng dư nợ). Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở phạm vi an toàn, ước đến 30/4/2019 nợ xấu 470 tỷ đồng, chiếm 1,95%/ tổng dư nợ cho vay.

1.6. Về giao thông vận tải

Ước tính khối lượng vận chuyển hành khách 4 tháng đầu năm đạt 45,70 triệu hành khách, tăng 10,40% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 1.148,80 triệu hành khách.km, tăng 10,11% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa 4 tháng đầu năm ước đạt 5,04 triệu tấn, tăng 11,66% so cùng kỳ và luân chuyển 289,53 triệu tấn.km, tăng 11,62% so cùng kỳ.

1.7. Tài nguyên - Môi trường

Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường có nhiều chuyển biến tích cực. Thường xuyên theo dõi diễn biến khí hậu, thời tiết, chất lượng nguồn nước mặt phục vụ sản xuất và nuôi trồng thủy sản của nhân dân. Thực hiện tốt công tác quản lý đất đai, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quan tâm thực hiện tích cực. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ môi trường.

Trong tháng đã cấp 2.783 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh; xác nhận đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 1.731 trường hợp./.

 Phòng Tổng hợp, Quy hoạch.


Số lượt người xem: 542 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày