SỐ LƯỢT TRUY CẬP

4
5
9
5
5
6
2

 Kinh tế - Xã hội

Kinh tế - Xã hội Thứ Năm, 26/03/2015, 09:05

Kết quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi Việt Nam là Thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

          Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tất yếu để phát triển kinh tế, thương mại và thu hút đầu tư, góp phần thúc đẩy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Đồng thời, từ  khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) càng khẳng định vị trí, vai trò của nước ta trên chính trường và thương trường quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của việc hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương lớn của Đảng, trong đó đã chỉ rõ về hội nhập quốc tế “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa dân tộc…”. Những năm qua (2007 – 2014), Ban Giám đốc Sở đã chỉ đạo triển khai học tập, quán triệt nội dung các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế và đã đạt được kết quả trên một số lĩnh vực chủ yếu như sau:

1. Về tăng trưởng kinh tế

Thực hiện một số chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) như: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 05/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X) về một số chủ trương, chính sách lớn để nên kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi nước ta trở thành thành viên WTO; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới”; Nghị quyết 49/NQ-CP ngày 10/7/2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết hội nghị lần 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X, Ban Giám đốc Sở đã kịp thời tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành các chủ trương nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; chủ động phối hợp với các ngành có liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm của tỉnh. Qua đó, nắm bắt diễn biến, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế của tỉnh trong thời kỳ hội nhập, kịp thời tham mưu cho UBND tỉnh điều hành linh hoạt các chính sách nhằm tháo gỡ những tồn tại, hạn chế của tỉnh phù hợp với các cam kết về các chính sách trong việc tuân thủ các quy định của WTO và một số cam kết đặc thù của Việt Nam; đồng thời quan tâm, hỗ trợ doanh nghiệp những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu; tranh thủ những thuận lợi lớn, hạn chế những tác động tiêu cực do hội nhập kinh tế thế giới mang lại. Chính vì vậy, đã góp phần đưa nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định khi Việt Nam gia nhập WTO. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2007 – 2014 đạt 11,39%/năm; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, trong đó: Khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng 49,7%, công nghiệp - xây dựng chiếm 24,71% và dịch vụ chiếm 25,59% trong tổng GRDP; các ngành, lĩnh vực đều có sự phát triển; quy mô nền kinh tế tăng lên, một số dự án kinh tế động lực được hình thành, kinh tế - xã hội của tỉnh đã có sự thay đổi bước đầu quan trọng. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người năm 2014 đạt 39,33 triệu đồng.

2. Về đầu tư

Thực hiện nghiêm túc Chương trình hành động số 240/CTr-UBND ngày 28/02/2008 của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới và Nghị quyết HĐND tỉnh về huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển; Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh chủ động cân đối nguồn lực đảm bảo kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với đảm bảo tiến bộ công bằng xã hội, ưu tiên vốn cho đầu tư phát triển, đặc biệt là hạ tầng cho sản xuất, hạ tầng kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu về hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng phục vụ cho thời kỳ hội nhập kinh tế và các khoản chi đảm bảo chính sách an sinh xã hội. Đồng thời, tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng nhiều chính sách về thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh công tác xúc tiến và kêu gọi đầu tư nên tổng vốn huy động đều tăng lên hàng năm. Năm 2007 tổng vốn đầu tư trên địa bàn đạt 2.910 tỷ đồng, năm 2014 đạt 9.120 tỷ đồng, giai đoạn 2007-2014 đạt 28.936,7 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần giai đoạn 2001 - 2006. Trong đó, tỷ trọng đầu tư từ vốn nhà nước so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong khoảng 35 – 40%; tỷ trọng này cơ bản đảm bảo đúng theo tinh thần Quyết định số 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế là duy trì tỷ trọng đầu tư nhà nước hợp lý. Bên cạnh đó, tỷ lệ huy động vốn ngoài nhà nước đối với các dự án trên địa bàn tỉnh có xu hướng ngày càng tăng phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Các dự án đầu tư đã và đang thực hiện có tác động tích cực đến kinh tế vĩ mô, trọng điểm của tỉnh: Lĩnh vực giao thông (Đường Cao Văn Lầu; đường Giá Rai – Gành Hào; đường Vĩnh Mỹ - Phước Long; thực hiện 6 tuyến đường giao thông về trung tâm xã, đã thông xe đến trung tâm được 4 xã; nâng tổng số có 37/50 xã (chiếm 74%) có đường ôtô đến trung tâm xã...), lĩnh vực nông nghiệp nông thôn (kè 2 bên bờ sông thành phố Bạc Liêu, kè Gành Hào, kè chống sạt lỡ cửa biển Nhà Mát, các dự án thủy lợi và dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp, Hệ thống công trình phân ranh mặn, ngọt tỉnh Sóc Trăng - Bạc Liêu...), lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật (Công viên vòng xoay mũi tàu Ngã Năm; Nhà thi đấu đa năng; mở rộng khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu; Dự án Quảng trường Hùng Vương, Khu hành chính tỉnh, ...); lĩnh vực công nghiệp (hạ tầng Khu công nghiệp Trà Kha, hạ tầng cụm công nghiệp Vĩnh Mỹ, cụm công nghiệp Chủ Chí...); lĩnh vực dịch vụ - du lịch (đã thu hút đầu tư 05 siêu thị (Vinatex; Coopmart; Siêu thị điện máy, nội thất Chợ lớn; Siêu thị điện máy và Trung tâm mua sắm Nguyễn Kim), hiện đưa vào sử dụng 04 siêu thị (Vinatex; Coopmart; Siêu thị điện máy, nội thất Chợ lớn; Siêu thị điện máy); 02 trung tâm thương mại cấp huyện; đầu tư xây dựng mới 07 chợ, cải tạo và nâng cấp 20 chợ trên địa bàn các huyện, thành phố), khu du lịch Nhà Mát,... Qua đó, góp phần xây dựng hình ảnh một Bạc Liêu năng động, phát triển và hòa cùng với với xu thế hội nhập chung của cả nước. Tuy nhiên, từ năm 2011-2014 thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện việc đình hoãn, giãn tiến độ nhiều công trình, dự án kém hiệu quả, không khả thi về nguồn vốn để tập trung vốn cho các dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng, các dự án trọng điểm, bức xúc. Thực hiện Chỉ thị số 1792/CT-TTg về tăng cường quản lý đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ và Chỉ thị số 27/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh nghiêm túc thực hiện, quá trình phân bổ kế hoạch vốn hàng năm được ưu tiên để trả nợ, quá trình triển khai thực hiện dự án quán triệt nguyên tắc chỉ được thực hiện khối lượng theo kế hoạch vốn được giao, không cho phép nhà thầu ứng trước vốn để thi công, không điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn các dự án... Vì vậy, tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh đã từng bước được xử lý nhưng nguồn lực để tiếp tục đầu tư hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lại rất thấp.

Trong những năm qua, đầu tư nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh thời kỳ hội nhập. Nếu trong giai đoạn trước hội nhập (giai đoạn 2001-2006), tổng vốn đầu tư nước ngoài chỉ có 15,36 triệu USD, thì giai đoạn 2007-2014, tổng vốn đầu tư nước ngoài tăng lên 51,390 triệu USD (tăng gấp 3,35 lần so giai đoạn 2001-2006). Đồng thời, Sở đã kịp thời tham mưu cho UBND tỉnh tranh thủ vận động các nhà tời trợ, các Bộ, ngành Trung ương trong việc thu hút vận động và thực hiện các chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), tỉnh Bạc Liêu đã thu hút được 23 dự án ODA, bao gồm cả các dự án do các Bộ, ngành Trung ương và địa phương quản lý với tổng vốn là 1.700,4 tỷ đồng, trong đó vốn ODA 1.025 tỷ đồng, còn lại là vốn đối ứng. Nguồn vốn ODA đầu tư vào tỉnh chủ yếu là nguồn vốn vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại, vốn vay ưu đãi chiếm 49,8%, vốn viện trợ không hoàn lại chiến 50,2% tổng vốn ODA tài trợ. Ngoài ra, Sở đã có những cố gắng trong việc tăng cường và thu hút nguồn vốn viện trợ phi Chính phủ nước ngoài (PCPNN). Trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh thu hút các tổ chức phi chính phủ nước ngoài viện trợ như: tổ chức Marie Stop International – Anh; tổ chức Pathfinder International; tổ chức Eye care Foundation Hà Lan; tổ chức Bánh mì Thế giới - Đức; Tổ chức Heifer Project Internaional - Hoa Kỳ; ..., đến nay có 08 dự án do các tổ chức PCPNN viện trợ trên địa bàn tỉnh, với tổng kinh phí viện trợ khoảng 11,8 tỷ đồng, đã giải ngân được 11,8 tỷ đồng, đạt 100% kinh phí viện trợ; một số tổ chức đã đến khảo sát và tài trợ trực tiếp dự án cho các đơn vị và địa phương trong tỉnh. Bên cạnh đó, khi đã là thành viên của WTO, các chính sách kinh tế được điều chỉnh theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập. Điều này đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam nói chung và Bạc Liêu nói riêng, cũng như mạnh dạn hơn trong việc tăng vốn, mở rộng quy mô các dự án đầu tư.

3. Phát triển doanh nghiệp tư nhân

Tình hình sản xuất kinh doanh được cải thiện qua từng năm, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên hoạt động của doanh nghiệp hiện vẫn còn khó khăn, nhất là khả năng tiếp cận nguồn vốn. Tỉnh đã tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách miễn, giảm thuế, gia hạn, cơ cấu lại vốn vay, tiếp tục xem xét cho vay với những dự án có hiệu quả, tăng cường công tác tập huấn, đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính,…  Nhờ đó, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dần được cải thiện. Tổng số doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2007 – 2014 là 1.351 doanh nghiệp, tăng gần 3 lần so với giai đoạn 2001 – 2006, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập là 1.572 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 10.560 tỷ đồng. Trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 98%.

4. Kinh tế tập thể: Từng bước được củng cố và phát triển, nhiều hợp tác xã doanh thu tăng khá cao, góp phần giải quyết tốt việc làm cho thành viên và người lao động tại địa phương. Năm 2014, toàn tỉnh có 96 hợp tác xã với 35.542 xã viên và 756 tổ hợp tác với 20.352 thành viên hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề; thu nhập bình quân của thành viên HTX, THT tăng từ 23 triệu đồng/năm 2010, lên 33 triệu đồng/năm 2014.


Số lượt người xem: 911 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày